Sáng 11/12/2025, Quốc hội thông qua Luật Chuyển đổi số với 433/442 đại biểu Quốc hội có mặt biểu quyết tán thành. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7.
Luật quy định về nguyên tắc, chính sách, cơ chế điều phối và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động chuyển đổi số; đồng thời làm rõ các nội dung trọng tâm về chính phủ số, kinh tế số và xã hội số.
Các nội dung thuộc lĩnh vực dữ liệu, giao dịch điện tử, an ninh mạng, viễn thông, trí tuệ nhân tạo và các lĩnh vực chuyên ngành khác được thực hiện theo pháp luật tương ứng, nhưng phải bảo đảm thống nhất với nguyên tắc và yêu cầu quy định tại Luật này.
Tại buổi họp báo thường kỳ tháng 12/2025, lãnh đạo Bộ Khoa học và Công nghệ khẳng định Luật Chuyển đổi số đã chính thức thiết lập hành lang pháp lý thống nhất để hình thành quốc gia số, giải quyết bài toán đầu tư cho các sản phẩm công nghệ chưa có tiền lệ và xác định Nhà nước là “khách hàng lớn nhất” của hoạt động này.
Thứ trưởng Bùi Hoàng Phương chủ trì họp báo thường kỳ tháng 12/2025 của Bộ Khoa học và Công nghệ chiều 31/12. Ảnh: Bộ KH&CN Chia sẻ về ý nghĩa của Luật Chuyển đổi số, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Bùi Hoàng Phương nhấn mạnh, trước đây, dù nhắc nhiều đến chuyển đổi số nhưng hệ thống văn bản luật chưa xác định rõ khái niệm.
Luật Chuyển đổi số đã xác định rõ vị trí pháp lý, định nghĩa cụ thể khái niệm và các hoạt động chuyển đổi số, làm cơ sở để Đảng và Nhà nước xây dựng các cơ chế hỗ trợ, ưu đãi.
Thiết lập "Luật khung" hướng tới quốc gia số
Ông Trần Quốc Tuấn, Trưởng phòng Quản lý đầu tư Cục Chuyển đổi số quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ, cho biết Luật Chuyển đổi số được xây dựng với quan điểm là một "Luật khung" hay "Luật cái ô".
Trong bối cảnh Việt Nam đã có các luật chuyên ngành như Luật Giao dịch điện tử, Luật Viễn thông, Luật An toàn thông tin mạng..., Luật Chuyển đổi số đóng vai trò kết nối các "mảnh ghép rời rạc” này thành một bức tranh tổng thể, bổ sung các mảng còn thiếu như Chính phủ số, Kinh tế số, Xã hội số và thiết lập cơ chế điều phối mang tính quốc gia.
Với kết cấu 8 chương và 48 điều, Luật không đi sâu lặp lại các quy định chuyên ngành mà tập trung vào các nguyên tắc, chính sách và biện pháp bảo đảm chuyển đổi số.
Đáng chú ý, Luật đã thiết lập các công cụ điều phối vĩ mô quan trọng như Chiến lược quốc gia về chuyển đổi số, Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số và Khung quản trị dữ liệu... để tổ chức triển khai hiệu quả.
Ông Trần Quốc Tuấn, Trưởng phòng Quản lý đầu tư Cục Chuyển đổi số quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ thông tin về những nội dung trọng tâm của Luật Chuyển đổi số. Ảnh: Bộ KH&CN Điểm nhấn quan trọng về nguồn lực thực thi là cam kết tài chính. Luật quy định dành tối thiểu 1% ngân sách nhà nước hàng năm chi cho chuyển đổi số.
Ông Trần Quốc Tuấn khẳng định đây là một cam kết chính trị mạnh mẽ cho giai đoạn tới. Bên cạnh tài chính, các quy định về nhân lực số cũng được luật hóa.
Tạo điều kiện để doanh nghiệp vừa và nhỏ ‘đứng trên vai người khổng lồ’
Luật Chuyển đổi số mang đến những thay đổi căn bản về cơ chế đầu tư và hỗ trợ thị trường. "Một trong những định hướng lớn của luật là tạo cơ chế thuận lợi nhất để thúc đẩy chuyển đổi số. Trong đó, một ý chính là Nhà nước sẽ là khách hàng lớn nhất của hoạt động chuyển đổi số thông qua cơ chế đặt hàng và giao nhiệm vụ", Thứ trưởng Bùi Hoàng Phương cho hay.
Đặc biệt, Luật đã tháo gỡ điểm nghẽn lớn trong đầu tư công nghệ: cơ chế thanh toán cho hoạt động thử nghiệm, điều mà trước đây chưa có.
Thông tin thêm về nội dung này, ông Trần Quốc Tuấn cho biết Luật cho phép áp dụng quy trình phát triển thử nghiệm đối với các hệ thống, hàng hóa "chưa có sẵn trên thị trường và chưa có tiền lệ", những hạng mục vốn rất khó xác định giá và đầu bài.
Về mặt công nghệ, Luật yêu cầu thay đổi nguyên tắc thiết kế: chuyển từ hệ thống công nghệ thông tin một chiều, bị động sang "hệ thống số" thông minh, chủ động phục vụ và gợi ý hỗ trợ con người.
Đối với cộng đồng doanh nghiệp, Luật tạo ra ba động lực lớn, bao gồm cắt giảm chi phí tuân thủ, thông qua việc tái cấu trúc thủ tục hành chính, triển khai thực hiện thủ thục hành chính toàn trình và mặc định chia sẻ dữ liệu.
Tiếp đó, cơ chế thử nghiệm (Sandbox) cho phép thử nghiệm các mô hình mới trong không gian có kiểm soát. Cuối cùng là hỗ trợ hạ tầng, nơi doanh nghiệp, đặc biệt là khối SME, được phép kết nối và khai thác các nền tảng số quốc gia do Nhà nước đầu tư. Cơ chế này giúp doanh nghiệp "đứng trên vai người khổng lồ", tận dụng hạ tầng sẵn có.
Theo ông Trần Quốc Tuấn, những yếu tố này sẽ giúp Việt Nam có được thể chế số minh bạch, tạo lập được môi trường đầu tư hấp dẫn cho cả doanh nghiệp trong nước và quốc tế.